Lượng lúa giống cần mua bằng diện tích ruộng nhân với mức gieo khuyến cáo cho cách gieo cấy của bạn, điều chỉnh theo cỡ hạt và tỷ lệ nảy mầm của lô giống, rồi cộng một phần nhỏ để dặm. Ví dụ giả định: nếu mức gieo khuyến cáo ở địa phương là 100 kg cho mỗi hecta, thì một sào Bắc Bộ 360 m² cần khoảng 3,6 kg, một công Nam Bộ 1.000 m² cần khoảng 10 kg. Con số thật phải lấy từ khuyến cáo của cơ quan nông nghiệp địa phương và hướng dẫn trên bao giống, vì nó thay đổi theo giống, vùng và cách gieo.
Tự tính trước khi ra đại lý giúp bạn khỏi mua theo cảm tính hoặc theo lời "mọi năm nhà nào cũng lấy chừng này". Mua thiếu thì phải mua bù, có khi không còn đúng lô; mua thừa thì vừa tốn tiền vừa có xu hướng gieo dày cho hết giống, mà gieo dày là chuyện nhiều nơi đang khuyên giảm. Bài này đi qua cách quy đổi diện tích, các yếu tố làm lượng giống thay đổi, một phép tính mẫu và các điểm cần hỏi đại lý.
Quy đổi diện tích ruộng ra mét vuông
Mỗi vùng có đơn vị đo ruộng quen dùng khác nhau. Mức gieo khuyến cáo thường tính theo hecta, nên bước đầu tiên là quy ruộng nhà mình về mét vuông.
| Đơn vị | Vùng quen dùng | Diện tích | Ghi chú |
|---|---|---|---|
| Sào Bắc Bộ | Đồng bằng, trung du phía Bắc | 360 m² | Một mẫu Bắc Bộ bằng 10 sào |
| Sào Trung Bộ | Một số tỉnh miền Trung | 500 m² | Có nơi dùng khác, nên hỏi lại cách tính ở địa phương |
| Công (công đất) | Nam Bộ | 1.000 m² | Mười công bằng một hecta |
| Công tầm cấy | Một số nơi ở Nam Bộ | 1.296 m² | Đơn vị cũ, vẫn còn người dùng |
| Hecta | Văn bản, khuyến cáo kỹ thuật | 10.000 m² | Mức gieo khuyến cáo thường ghi theo đơn vị này |
Nếu ruộng có hình dạng không đều, diện tích trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hoặc sổ của hợp tác xã là căn cứ tốt. Diện tích gieo thật có thể nhỏ hơn diện tích ghi trên giấy vì trừ bờ, mương; với ruộng nhỏ, chênh lệch này đáng kể.
Năm yếu tố làm lượng giống thay đổi
Cách gieo cấy. Gieo sạ lan, sạ hàng bằng máy, cấy tay từ mạ dược, cấy máy từ mạ khay cần lượng giống rất khác nhau. Sạ lan thường tốn giống nhất; cấy và sạ hàng tiết kiệm hơn. Mức gieo khuyến cáo luôn đi kèm cách gieo, nên khi hỏi khuyến cáo, nói rõ bạn gieo theo cách nào.
Loại giống: lúa thuần hay lúa lai. Lúa lai thường được khuyên gieo, cấy với lượng giống thấp hơn lúa thuần vì cây đẻ nhánh khoẻ, và hạt giống lúa lai đắt. Nhầm mức gieo của lúa thuần cho lúa lai là cách tốn tiền nhanh nhất.
Cỡ hạt, đo bằng khối lượng nghìn hạt. Hai giống có hạt to nhỏ khác nhau: cùng một ký, giống hạt nhỏ có nhiều hạt hơn. Nếu khuyến cáo được đưa theo số cây trên mét vuông, giống hạt to cần nhiều ký hơn để đạt cùng số cây. Thông số khối lượng nghìn hạt đôi khi có trên bao hoặc trong mô tả giống.
Tỷ lệ nảy mầm của lô giống. Bao giống thường ghi tỷ lệ nảy mầm tối thiểu. Mức gieo khuyến cáo được tính cho giống đạt chuẩn; lô có tỷ lệ thấp hơn cần nhiều hơn một chút. Nhưng đừng dùng điều này để gieo bù quá tay cho lô kém; tốt hơn là đổi lô.
Điều kiện ruộng và thời vụ. Ruộng không bằng phẳng, nhiều ốc, chuột, chim, hoặc vụ có nguy cơ mưa lớn sau sạ thường được khuyên để dự phòng nhiều hơn. Đây là chỗ kinh nghiệm địa phương quan trọng, nên hỏi tổ khuyến nông, cán bộ nông nghiệp xã.
Phép tính mẫu từng bước (ví dụ giả định)
Các con số dưới đây là ví dụ giả định để minh hoạ cách tính, không phải khuyến cáo cho giống hay vùng nào. Bạn thay bằng số thật của mình.
- Diện tích: ruộng nhà có 5 sào Bắc Bộ, tức 5 × 360 = 1.800 m², trừ bờ và mương ước còn 1.700 m² gieo được.
- Mức gieo khuyến cáo (giả định) cho cách sạ hàng ở địa phương: 80 kg mỗi hecta, tức 8 g mỗi mét vuông.
- Lượng cơ bản: 1.700 m² × 8 g = 13.600 g, khoảng 13,6 kg.
- Điều chỉnh tỷ lệ nảy mầm (giả định): khuyến cáo tính cho giống nảy mầm 85%, lô bạn mua ghi 80%. Hệ số điều chỉnh 85 ÷ 80 ≈ 1,06; lượng cần ≈ 13,6 × 1,06 ≈ 14,4 kg.
- Dự phòng dặm (giả định 5%): 14,4 × 1,05 ≈ 15,1 kg.
- Quy ra bao: nếu đại lý bán bao theo khối lượng cố định, chọn số bao vừa đủ hoặc dư ít, hỏi có bán lẻ ký không, có nhận lại bao chưa mở không.
Phép tính này mất vài phút nhưng giúp bạn có con số trước khi nói chuyện với đại lý. Nếu đại lý gợi ý lượng khác hẳn, hỏi lý do: có thể họ biết điều gì về giống hoặc ruộng vùng bạn mà bạn chưa tính tới, cũng có thể họ chỉ muốn bán thêm.
Ví dụ giả định: cùng diện tích, hai giống khác cỡ hạt
Khuyến cáo kỹ thuật đôi khi được đưa theo số hạt hoặc số cây trên mét vuông thay vì theo ký trên hecta. Khi đó, cỡ hạt trở thành yếu tố quyết định. Cỡ hạt được đo bằng khối lượng nghìn hạt, tức một nghìn hạt nặng bao nhiêu gam.
Hãy xem ví dụ giả định. Khuyến cáo là gieo khoảng 300 hạt mỗi mét vuông. Giống A có khối lượng nghìn hạt 25 g, tức 300 hạt nặng 7,5 g; giống B hạt to hơn, khối lượng nghìn hạt 30 g, 300 hạt nặng 9 g. Với ruộng 1.000 m², giống A cần khoảng 7,5 kg, giống B cần khoảng 9 kg, chưa tính điều chỉnh nảy mầm và dự phòng. Chênh lệch một phần năm, chỉ vì cỡ hạt.
Ý nghĩa với người mua: khi đổi sang giống mới có hạt to hơn hoặc nhỏ hơn giống cũ, đừng mua theo số ký quen tay. Hỏi đại lý khối lượng nghìn hạt của giống mới nếu có, hoặc hỏi mức gieo khuyến cáo riêng cho giống đó. Nếu chỉ có mức gieo tính theo ký, nó thường đã được tính cho cỡ hạt của chính giống, nên dùng thẳng được.
Lượng giống cho ruộng mạ, mạ khay cấy máy
Với cách cấy, giống không gieo thẳng ra ruộng mà gieo vào ruộng mạ hoặc khay mạ rồi mới cấy. Lượng giống vẫn được tính theo diện tích ruộng cấy, nhưng thêm vài yếu tố: diện tích ruộng mạ hoặc số khay mạ cần cho mỗi đơn vị diện tích cấy, và tỷ lệ mạ hao khi nhổ, cấy.
Với cấy máy, số khay mạ cho một đơn vị diện tích thường do bên làm dịch vụ cấy máy tính sẵn, tuỳ máy và mật độ cấy. Nhiều nơi người dân mua giống rồi giao cho tổ dịch vụ làm mạ khay; khi đó nên hỏi tổ dịch vụ cần bao nhiêu ký giống cho diện tích nhà mình, rồi mới ra đại lý mua. Mua theo con số của tổ dịch vụ thường chính xác hơn tự áp mức gieo sạ.
Một số dịch vụ cung cấp luôn mạ khay từ giống của họ. Trong trường hợp đó, bạn không mua giống trực tiếp, nhưng vẫn nên hỏi giống gì, nguồn ở đâu, lô nào, và ghi lại; nếu ruộng có vấn đề, thông tin này cần cho việc tìm nguyên nhân.
Vì sao không nên mua dư để "gieo dày cho chắc"
Ở nhiều vùng trồng lúa, gieo dày từng là thói quen: gieo nhiều để chắc có cây, phòng ốc, chuột, chim. Nhiều khuyến cáo kỹ thuật những năm gần đây khuyên giảm lượng giống, vì ruộng gieo quá dày làm cây cạnh tranh nhau ánh sáng và dinh dưỡng, thân yếu, dễ đổ ngã, dễ phát sinh sâu bệnh, và tốn thêm tiền giống, tiền thuốc.
Khi mua dư giống, người ta có xu hướng gieo hết để khỏi phí. Vì vậy, mua đúng lượng là một cách tự giữ kỷ luật. Nếu lo thiếu cây ở chỗ trũng, chỗ ốc nhiều, hãy dành một phần dự phòng nhỏ để gieo dặm đúng chỗ, thay vì rải dày cả ruộng.
Một lý do nữa: giống thừa sau vụ không dễ dùng lại. Lúa giống đã mở bao, để qua mùa trong điều kiện nóng ẩm thường giảm sức nảy mầm; lúa giống đã xử lý thuốc không dùng làm thực phẩm hay thức ăn chăn nuôi được. Phần thừa cuối cùng thường bị bỏ, tức là tiền mua dư mất hẳn.
Hỏi đại lý gì khi mua theo lượng đã tính
Mang con số tự tính ra đại lý, và hỏi thêm những câu sau để mua cho khớp:
- Bao giống có những cỡ nào, có bán lẻ theo ký không? Với ruộng nhỏ, bán lẻ giúp bạn khỏi mua dư nửa bao.
- Mức gieo khuyến cáo cho giống này, với cách gieo của nhà mình, là bao nhiêu? So với con số bạn có từ khuyến nông.
- Lô này sản xuất khi nào, hạn dùng tới khi nào, tỷ lệ nảy mầm ghi bao nhiêu? Dùng để điều chỉnh phép tính.
- Bao chưa mở có đổi trả được không nếu thừa? Một số đại lý nhận lại bao nguyên trong thời gian ngắn.
- Có cùng lô cho cả nhà mình không, nếu mua nhiều bao? Gieo cùng lô giúp ruộng đều và dễ truy khi có vấn đề.
- Nếu mua chung với vài hộ trong tổ, đại lý có ghi hoá đơn tách từng hộ được không? Hoá đơn rõ ràng có ích khi cần khiếu nại.
Mua chung theo tổ, theo nhóm hộ cùng cánh đồng cũng là cách hay để cả cánh đồng gieo cùng giống, cùng lô, cùng thời điểm, thuận cho việc chăm sóc và thu hoạch. Khi đó, mỗi hộ vẫn nên tự tính lượng của mình theo diện tích thật.
Giữ lại một phần nhỏ làm mẫu
Khi mở bao giống, trước khi ngâm ủ hay gieo, lấy ra một nắm nhỏ, cho vào túi kín, ghi ngày mua, tên giống, số lô, đại lý bán, và cất ở chỗ khô mát. Phần mẫu này hầu như không ảnh hưởng tới lượng gieo, nhưng có giá trị lớn nếu sau này ruộng mọc không đều, lẫn giống hay có vấn đề cần đối chiếu.
Cùng với mẫu, giữ hoá đơn hoặc phiếu mua, vỏ bao hoặc ảnh chụp nhãn bao rõ số lô. Những thứ này chiếm rất ít chỗ, nhưng khi có tranh chấp với đại lý hay công ty giống, chúng là bằng chứng gần như duy nhất. Bài riêng về ruộng lẫn giống trên trang này nói kỹ hơn cách dùng mẫu lưu.
Nếu bạn mua chung với các hộ khác, đề nghị mỗi hộ giữ mẫu từ bao của mình, hoặc một người giữ mẫu chung có ghi rõ bao nào chia cho hộ nào. Khi có vấn đề, việc biết bao nào đi ruộng nào giúp phân biệt lỗi do lô giống với lỗi do ruộng.
Câu hỏi thường gặp
Mức gieo lúa khuyến cáo lấy ở đâu cho đúng?
Nguồn tốt nhất là cán bộ nông nghiệp, khuyến nông ở xã hoặc cơ quan chuyên ngành nông nghiệp cấp tỉnh, vì khuyến cáo thay đổi theo vùng, giống, thời vụ và cách gieo. Hướng dẫn trên bao giống của nhà sản xuất cũng là nguồn tham khảo. Lời khuyên của đại lý nên đối chiếu với hai nguồn trên.
Sạ bằng máy sạ hàng có tiết kiệm giống nhiều so với sạ lan không?
Thường tiết kiệm đáng kể vì hạt được rải đều theo hàng, ít chỗ dày chỗ thưa. Mức tiết kiệm cụ thể tuỳ máy, tuỳ cách chỉnh và tuỳ khuyến cáo địa phương. Nếu chuyển từ sạ lan sang sạ hàng, nên tính lại lượng giống thay vì mua như mọi năm.
Hạt giống ghi tỷ lệ nảy mầm cao thì có thể gieo ít hơn khuyến cáo không?
Mức gieo khuyến cáo đã tính cho giống đạt chuẩn. Nếu lô thật sự có tỷ lệ cao hơn chuẩn, có thể giảm một chút theo cách tính tỷ lệ, nhưng chênh lệch thường nhỏ. Đừng giảm quá nhiều chỉ dựa vào con số trên bao khi chưa có kinh nghiệm với giống đó.
Mua thiếu giống giữa chừng thì làm sao?
Cố gắng mua bù cùng giống, cùng lô ở đúng đại lý đã mua. Nếu không còn cùng lô, ghi lại phần ruộng gieo bằng lô khác để dễ theo dõi. Tránh trộn giống khác vào cùng thửa vì ruộng sẽ trổ, chín không đều.
Ruộng nhỏ vài sào có nên mua bao lớn cho rẻ?
Bao lớn thường rẻ hơn tính trên mỗi ký, nhưng phần dư sau vụ thường bị bỏ hoặc giảm chất lượng khi để lâu. Tính phần dư nhân với giá trước khi quyết định; với ruộng nhỏ, bao nhỏ hoặc mua chung với hàng xóm thường hợp lý hơn.
Có nên tính dự phòng cho ốc bươu vàng, chuột phá?
Nhiều nơi khuyên có phần dự phòng nhỏ để dặm. Tuy vậy, cách hiệu quả hơn là quản lý ốc, chuột theo hướng dẫn của địa phương, chứ không phải gieo dày bù lại. Phần dự phòng nên dùng để dặm đúng chỗ bị hại.